LỄ CHÚA GIÊSU LÊN TRỜI - năm A

Có một khoảnh khắc buồn trong bài đọc I, trích sách Công vụ Tông đồ hôm nay, mà có lẽ chúng ta không để ý tới. Đó là hình ảnh sau khi Chúa Giêsu về trời, các môn đệ cứ đứng nhìn lên trời. Họ không biết nói gì, cũng không biết phải làm gì tiếp theo... Các ông đã sống với Chúa Giêsu bằng sự hiện diện cụ thể: cùng ăn, cùng uống với Ngài, nghe Ngài hướng dẫn và dạy dỗ, được chạm đến con người bằng xương bằng thịt của Ngài. Những lúc hoang mang, lo lắng, thì có Ngài ở bên nâng đỡ. Họ cảm thấy bình an khi có Ngài bên cạnh... Nhưng bây giờ thì khác. Ngài không còn hiện diện như trước nữa. Các ông cảm thấy thẫn thờ, mắt hướng nhìn lên trời. Điều làm cho các ông như thế có lẽ không phải là việc Đức Giêsu lên trời, mà là từ nay các môn đệ phải học cách yêu và tin vào một Đấng mà họ không còn thấy bằng mắt nữa.

Kinh nghiệm này của các tông đồ, phần nào cũng là kinh nghiệm trong đời sống đức tin của chúng ta. Nhiều khi ta cảm thấy chơi vơi, không biết bám vào đâu. Nhưng chính lúc ấy lại là lúc đời sống thiêng liêng được trưởng thành hơn. Không ít người quen với việc luôn cảm nhận được Thiên Chúa đang hiện diện trong cuộc đời mình. Họ cảm thấy rất bình an khi cầu nguyện và tham dự Thánh lễ, vì cảm thấy Thiên Chúa đang ở ngay bên cạnh mình. Họ nghĩ rằng mình có một đức tin mạnh mẽ. Nhưng rồi cũng có những lúc người ta không còn cảm giác ấy nữa: cầu nguyện mà lòng vẫn trống rỗng, tham dự Thánh lễ mà con tim vẫn chai cứng, đọc kinh mà chẳng thấy Thiên Chúa chạm đến mình... Họ vẫn giữ đạo, nhưng mang trong mình một nỗi nặng nề tận sâu thẳm tâm hồn.

Điều làm cho người ta lo lắng, hoang mang và sợ hãi nhất có lẽ không phải là những đau khổ, mà là cảm giác không còn thấy sự hiện diện của Thiên Chúa, Đấng là Tình yêu, là Chân – Thiện – Mỹ nữa. Chính điều này làm cho người ta muốn bỏ cuộc. Họ vẫn giữ đạo, nhưng không còn cảm thấy mình thuộc về Thiên Chúa và Giáo Hội của Ngài; họ không còn muốn trông chờ điều gì nơi Thiên Chúa nữa. Đây chính là điều thánh Mát-thêu miêu tả trong bài Tin Mừng: “Các ông bái lạy, nhưng có mấy ông lại hoài nghi” (Mt 28,17).

Đáng lẽ sau biến cố Phục Sinh, các môn đệ phải mạnh mẽ hơn, tin tưởng hơn. Thế mà đứng trước Đấng Phục Sinh, lòng các ông vẫn chao đảo. Chúa Giêsu cũng không vội sửa chữa sự mong manh ấy trước khi trao ban sứ mạng cho các ông. Ngài nói: “Anh em hãy đi loan báo Tin Mừng...” Chính sự can đảm ra đi loan báo Tin Mừng đã làm cho đức tin của các ông lớn mạnh và trưởng thành hơn. Đây cũng là điều nâng đỡ mỗi người chúng ta, dù là linh mục, tu sĩ hay giáo dân: không phải vì chúng ta luôn mạnh mẽ trong đức tin, mà vì Thiên Chúa vẫn làm việc qua những con người chưa hoàn hảo.

Nhiều khi chính các linh mục và tu sĩ cũng phải bước đi trong bóng tối của đời mình. Họ vẫn thi hành sứ mạng Chúa trao, nhưng có những lúc bản thân chỉ như đang cố gắng ở lại với Chúa từng ngày một. Đó không phải là dấu hiệu Thiên Chúa bỏ rơi họ, nhưng có thể là dấu hiệu Thiên Chúa muốn dẫn họ đi sâu hơn vào kinh nghiệm đức tin, vượt lên trên những cảm xúc tự nhiên của con người.

Trong bài đọc II, thánh Phaolô cầu xin cho các tín hữu được Thần Khí khôn ngoan soi sáng, để nhận biết và thấy được niềm hy vọng mà Thiên Chúa mời gọi. Đức Kitô Phục Sinh từ nay không còn được nhận ra theo cách cũ nữa. Ngài hiện diện trong Thánh Thể. Nhưng nhiều khi Ngài cũng hiện diện trong chính sự nghèo nàn của lòng tin chúng ta; trong việc một người vẫn quỳ xuống cầu nguyện dù không còn cảm thấy gì; trong việc một người vẫn trung thành với bổn phận dù lòng đầy mệt mỏi.

Đức tin trưởng thành không phải là lúc người ta cảm thấy Chúa rõ hơn, nhưng là lúc người ta vẫn không bỏ đi, ngay cả khi không còn thấy gì rõ nữa. Và quan trọng hơn hết là lời bảo đảm của Chúa Giêsu: “Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế” (Mt 28,20). Như thế, điều chúng ta cần quan tâm không phải là mình cảm thấy gì, mà là mình đang “ở cùng” ai.

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *