TẠI SAO KHÔNG LY DỊ?
“Tại sao Chúa không cho ly dị? Nếu hôn nhân chỉ còn làm người ta đau khổ, tại sao vẫn phải giữ? Chẳng lẽ Thiên Chúa muốn con người sống trong đau khổ hơn là được hạnh phúc?”
Khi đặt vấn đề này, không hẳn vì người ta chống lại giáo huấn của Giáo Hội, mà có khi họ đã cố gắng sau nhiều năm sống cho đúng, đã nhịn, đã chịu, đã hy vọng, nhưng đời sống hôn nhân vẫn dần trở thành một nơi đầy mệt mỏi và đau khổ. Vì thế, khi nghe Giáo Hội nói hôn nhân là bất khả phân ly, họ cảm thấy như mình đang bị buộc phải ở lại trong đau khổ nhân danh đức tin. Nếu không hiểu đúng vấn đề, người ta rất dễ biến giáo huấn Giáo hội Công giáo về hôn nhân thành một thứ luật lạnh lùng. Nhưng, điều Giáo Hội bảo vệ trước hết không phải là một nguyên tắc luân lý, mà là chính mầu nhiệm tình yêu của Thiên Chúa.
Trong Kinh Thánh, điều làm người ta kinh ngạc không phải là sự trung thành của con người đối với Thiên Chúa, nhưng là sự trung tín của Thiên Chúa đối với con người. Toàn bộ lịch sử cứu độ là lịch sử của một Thiên Chúa vẫn ở lại dù con người liên tục phản bội giao ước. Israel nhiều lần bỏ Thiên Chúa để chạy theo ngẫu tượng. Dân Chúa thất trung, nhưng Thiên Chúa không hủy giao ước mỗi khi Ngài bị phản bội. Các ngôn sứ đã dùng chính hình ảnh hôn nhân để diễn tả điều ấy. Ngôn sứ Hôsê nói về một Thiên Chúa vẫn đi tìm người vợ bất trung của mình: “Ta sẽ lập hôn ước với ngươi đến muôn đời” (Hs 2,21).
Đó không phải là thứ tình yêu chỉ tồn tại khi mọi sự còn tốt đẹp. Đỉnh cao của giao ước ấy là Đức Kitô. Thánh Phaolô viết: “Đức Kitô yêu thương Hội Thánh và hiến mình vì Hội Thánh” (Ep 5,25). Đức Kitô không chỉ yêu Hội Thánh vì Hội Thánh là thánh thiện. Ngài còn yêu một Hội Thánh, vì trong Hội Thánh còn đầy những con người yếu đuối, phản bội và tội lỗi. Thập giá không phải là thất bại của tình yêu, nhưng là mặc khải cuối cùng của một tình yêu không rút lại khi phải đi qua đau khổ.
Chính từ đó, Giáo Hội hiểu về bí tích Hôn phối. Hôn nhân Kitô giáo không chỉ là hai người quyết định sống với nhau. Trong bí tích, tình yêu con người được đưa vào trong giao ước của chính Thiên Chúa. Vì thế, khi Giáo Hội nói hôn nhân là bất khả phân ly, điều Hội Thánh muốn nói không phải đơn giản là: “đã cưới thì không được bỏ nhau.” Sâu xa hơn thế, Hội Thánh tin rằng tình yêu thật luôn mang nơi nó chiều kích của sự trung tín. Nếu tình yêu chỉ còn tồn tại khi người kia làm mình hạnh phúc, thì cuối cùng tình yêu sẽ bị thu nhỏ thành nhu cầu cảm xúc của cá nhân.
Nhưng ở đây xuất hiện một khó khăn rất lớn. Bởi nhiều người nghe như thế sẽ nghĩ rằng Kitô giáo đang bắt con người phải tiếp tục chịu đựng mọi đau khổ trong hôn nhân. Điều đó không đúng. Vì Giáo Hội chưa bao giờ dạy rằng một người phải tiếp tục ở lại trong sự bạo hành, nhục nhã hay nguy hiểm để “giữ bí tích.” Sách Giáo lý Hội Thánh Công giáo nói rõ rằng trong những trường hợp nghiêm trọng, việc ly thân có thể trở thành cần thiết để bảo vệ chính người phối ngẫu và con cái (x. GLHTCG 2383). Bộ Giáo luật cũng nhìn nhận quyền ly thân khi đời sống chung gây nguy hại nghiêm trọng về thể lý hoặc tinh thần (x. Gl, 1151-1155).
Điều này rất quan trọng, vì có những người đã bị làm cho mặc cảm khi muốn bảo vệ chính mình. Có những người phụ nữ bị bạo hành nhưng vẫn bị ép phải “vác thập giá.” Có những người sống nhiều năm trong sợ hãi chỉ vì nghĩ rằng bỏ đi là phản bội Thiên Chúa. Đó không phải là Tin Mừng. Thập giá của Đức Kitô không phải là việc chấp nhận để sự dữ nghiền nát phẩm giá con người. Đức Kitô chịu đóng đinh vì yêu, chứ không vì Ngài tôn thờ đau khổ. Đạo Công giáo không thần thánh hóa đau khổ. Thiên Chúa không vui thích khi thấy một gia đình tan vỡ hay một người phải khóc trong chính cuộc hôn nhân của mình.
Nhưng đồng thời, Giáo Hội cũng biết một điều khác là nhiều cuộc hôn nhân không chết vì thiếu tình cảm ban đầu. Chúng chết dần vì con người không còn khả năng trao hiến và tha thứ cho nhau nữa. Sau nguyên tội, con người mang vào hôn nhân rất nhiều vết thương mà chính mình cũng không ý thức hết. Có người lớn lên trong thiếu thốn tình thương nên bước vào hôn nhân với nhu cầu được lấp đầy. Có người mang trong mình nỗi sợ bị bỏ rơi nên kiểm soát người mình yêu. Có người chưa bao giờ học cách đối thoại nên chỉ biết im lặng hoặc làm tổn thương khi xung đột xảy ra. Nhiều người nghĩ mình tìm một người để yêu, nhưng thật ra lại đang tìm một người để chữa lành những khoảng trống bên trong mình. Đến một lúc, người phối ngẫu không còn được nhìn như một con người cần được yêu nữa, nhưng trở nên như một nguyên nhân làm mình thất vọng.
Đó là điểm mà nhiều cuộc hôn nhân bắt đầu đổ vỡ. Vì thế, vấn đề của hôn nhân không chỉ nằm ở chuyện “còn yêu hay không,” nhưng ở chỗ con người có đủ trưởng thành để yêu hay không. Đức Giáo hoàng Phanxicô trong Amoris Laetitia nói rằng văn hóa hôm nay khiến người ta dễ bước vào các tương quan với não trạng tạm thời, như thể mọi sự đều có thể thay thế khi không còn đem lại cảm xúc như trước nữa (x. AL 39).
Chính vì biết sự mong manh ấy của con người, Giáo Hội không chỉ nói về luật, nhưng nói về ân sủng. Hôn nhân Kitô giáo không phải chỉ là nỗ lực đạo đức của hai người cố sống tốt với nhau. Nếu chỉ dựa vào sức riêng, rất nhiều tình yêu sẽ cạn kiệt. Bí tích Hôn phối là nơi ân sủng Thiên Chúa bước vào tình yêu con người, nâng đỡ nó, thanh luyện nó và dạy con người học yêu theo cách của Đức Kitô.
Điều đó không xảy ra cách tự động. Có những cuộc hôn nhân cần được chữa lành. Người ta cần học lại cách nói chuyện với nhau, học lắng nghe, học xin lỗi, học tha thứ, học hiện diện cho nhau... Có khi cần đến sự đồng hành thiêng liêng; có khi cần tư vấn tâm lý; có khi cần một khoảng cách tạm thời để tránh tiếp tục làm tổn thương nhau. Cũng có những trường hợp mà Giáo Hội phải điều tra xem cuộc hôn nhân ấy ngay từ đầu có thành sự hay không, nếu thiếu tự do nội tâm, thiếu khả năng trưởng thành hoặc thiếu ý hướng hôn nhân thật sự (x. GL 1095-1107).
Nhưng giữa tất cả những điều ấy, Giáo Hội vẫn không ngừng bảo vệ một điều mà thế giới hôm nay ngày càng đánh mất. Đó là một tình yêu đích thực, nó không chỉ là cảm xúc làm mình hạnh phúc, nhưng là khả năng trung tín với điều mình đã cám kết và trao hiến. Giáo Hội bảo vệ nó không phải vì con người luôn làm được một cách hoàn hảo, nhưng vì đó là cách Thiên Chúa yêu con người.
Dominic Thế, S.J.


